1.      Nam Mô Hát Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da


Bồ tát Quán thế âm tự dùng chính bản thân của ngài, vận dụng thần lực và đại bi tâm để chuyển hóa tâm chúng sanh chuyển mê khai ngộ, thẳng đến cứu cánh niết bàn.

 

Đại ý : Nam mô tức quy y, quy mạng, tôn kính, vâng lời, ...  Hắc ra đát na tức là Bảo, báu, Đá ra dạ là tam (bảo) hay ba (ngôi báu), Da là lễ bái.

 

Vậy câu : Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.”    : Chúng con, đem cả thân mạng Quy y (quy mạng) kính lễ Thập phương thường trú vô tận Tam bảo.

 

Lược giải : Hành trì câu thần chú nầy là : Chúng ta trở về với tánh Giác ngộ như chư Phật để làm Phật.

 

Cho nên :  Những bài chú, những câu niệm Hồng danh Phật hay Bồ tát đều phát khởi từ chữ Nam mô, đều có cùng một ý nghĩa là trở về nương theo Tánh giác. Phật Pháp Tăng nói cho đúng ý ban đầu của chư Phật, Tổ là : Giác – Chánh – Tịnh.  

 

Đức Phật thường dạy :  Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nhưng vì mê nên trở thành chúng sanh. Chúng sanh nằm trong mê nên không hiểu tà, chánh ra sao, nay được Phật dạy là bỏ mê khai ngộ, đi theo con đường chánh.

 

Tâm chúng sanh xao động chẳng khác nào sóng giữa biển lớn, như ly nước đục đang bị khuấy động ;  đức Phật hướng dẫn chúng sanh trở về với sự tịch tịnh thì mới có an lạc, mới giải thoát. Vậy, Giác – Chánh – Tịnh tức là Phật – Pháp – Tăng  vậy.

 

Hát ra đát na :  Ở đây, chúng ta thấy là đại thể vốn chẳng phải không mà cũng chẳng phải sắc (phi không phi sắc), trong đó hàm chứa những chơn lý vi diệu, những cảnh giới thanh tịnh. Đá ra dạ da :  tức pháp âm của nhĩ căn có thể thấu triệt khắp cả mười phương, không hề ngăn ngại, đến chỗ tự nhiên. Tự nhiên ở đây là khế hợp với chánh pháp.

Nói khác đi là khế hợp với chánh pháp do nơi Tâm mà có. Trong kinh thường dạy: Phật tức tâm, tâm tức Phật, tức là đạo. Tất cả chúng sanh nương theo phương pháp của Phật mà tu hành thì dễ đạt đạo và sẽ chứng được Vô thượng bồ đề.

 

Câu nầy nói lên nguyện lực của Bồ tát Quán thế âm là mong muốn và hy vọng chúng sanh quy y với Tam bảo một cách chân chính ;  nhờ đó, mà thấy được rõ lòng mình, hiện rõ chơn tánh.

Từ đó, chúng sanh mới đạt được thâm áo của câu chơn ngôn thần chú nầy. Và, Ngài muốn chúng sanh phải chứng ngộ để trở thành Chánh đẳng Chánh giác.

 

Bốn chữ “hát na đát ra” , hành trì đúng nghĩa và thành tâm là đã khai ngộ tâm tánh tức là khai thông minh nghĩa để diệu pháp của Phật thâm nhập vào tâm khảm của chúng sanh.

 

Như trên đã nói Quy y Tam bảo là trở về với Giác – Chánh – Tịnh. Trong phần sám hối và quy y Tam bảo đã từng dạy:

 

Quy y Phật lưỡng túc tôn.

 

Vậy thì lưỡng túc tôn là gì ?  Lưỡng là hai, Túc là đầy đủ và Tôn tức cung kính, cao quý. Đó là :  Phước túc tôn và Huệ túc tôn. Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh quy y Tam bảo là vì đức Phật có đủ phước đức cả mười phương, chín cõi ;  đức Phật có đủ cả huệ túc nên tùy cơ thuyết pháp, hóa độ chúng sanh thật dễ dàng. Chúng sanh thành tâm quy y Tam bảo, một ngày rất gần cũng có đủ như chư Phật.

 

Quy Pháp ly dục tôn.

 

Vậy thì ly dục tôn là gì ?  Ly tức là lìa khỏi, bỏ đi, rời xa, Dục là ưa thích, ưa muốn. Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh xa lìa ái dục của cõi hạ giới, cái dục nầy nó là mầm mống của gốc sanh tử, dễ dàng tạo những nghiệp quả không mấy tốt đẹp thì khó mà đoạn diệt được sanh tử luân hồi. Chúng sanh chí thành quy y Tam bảo một ngày rất gần cũng thâm nhập kinh tạng và đạt được giải thoát an lạc, tự tại như chư Phật.

 

Quy y Tăng chúng trung tôn.

 

Chúng trung tôn là những gì ?  Chúng là một tập hợp gồm bốn người trở lên, Trung là ở giữa; tức là ngôi chúng trung hòa. Điều nầy chỉ cho hàng Tăng sĩ có sáu hòa hiệp cả sự lẫn lý, phạm hạnh (thanh tịnh) cao cả, thuyết pháp lợi sanh, làm vị thầy giữa cõi trời và cõi người. Nếu chúng sanh quy y Tam bảo, một ngày rất gần cũng sẽ trở thành bậc Thánh.

 

Chúng ta lãnh hội được ý nầy tức là đã thâm nhập câu thần chú trên đây. Từ đó sẽ hiểu được thế nào là chơn không diệu hữu.

 

Điều cần chú ý là :  Khi hành trì, đọc tụng vừa đủ nghe, dừng quá nhanh mà cũng đừng quá chậm. Phải có tâm chí thành và cung kính với Tam bảo và với chính mình.