17.   Ma Phạt Đặc Đậu


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát, trên mặt ngài có ba con mắt.

 

Ngoài hai con mắt thường, giữa vầng tráng có một con mắt nữa ;  một tay cầm bánh xe và một tay cầm sợi dây sắt có khả năng cảm hóa người ác thành người thiện.

 

            Đại ý :  Ma phạt đặc đậu ý nói vị nầy là thân thích với cõi trời và bạn thân của cõi người.

Từ câu Tát bà tát đá đến câu Ma phạt đặc đậu có ý nghĩa là quy y, quy mạng với Tam bảo để được học chánh pháp, tức là hồi đầu nương tựa Phật Pháp Tăng và được thiện thần, hộ pháp ủng hộ, khỏi bị chướng nghiệp chổi dậy khó tu tập, thì đường giải thoát khó lên, Phật cảnh khó được.

 

            Lược giải :  Bắt đầu câu thần chú đầu bài cho đến đây, Bồ tát Quán thế âm hóa hiện qua nhiều thân tướng khác nhau để dắt dìu cho chúng sanh tu tập.

 

Ngài khuyến tấn cho tất cả những ai muốn tu tập thì nên xả bỏ hết nhiễm ô của thế gian, đừng để thất tình lục dục ràng buộc, không để cho vòng danh lợi đoanh vây. Tự mình quán xét từ thân cho đến tâm để chuyển mê khai ngộ. Muốn tu thì phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo ;  đoạn ái ân phú quý riêng mình, một đường thẳng tiến trong chánh niệm.

 

Niệm niệm nối nhau không dứt thì vọng niệm sẽ tan biến, chánh niệm hưng khởi ;  lúc nầy tham sân si đốn đoạn, giới định huệ viên dung.

 

Đạt được trình độ nầy là hành giả sẽ nhất tâm bất loạn. Tuy nhiên, nhất tâm bất loạn có hai lẽ :

           

-. Đối với trì niệm bất luận là sự trì hay lý trì, hễ trì niệm câu thần chú đến lúc dẹp được phiền não, dứt sạch hết kiến hoặc, tư hoặc như vậy mới được gọi là Sự nhất tâm ;  bất luận sự trì hay lý trì hễ trì niệm câu thần chú hay danh hiệu Phật, Bồ tát đến lúc tự tâm được khai ngộ, thấy được tự tánh, như vậy là đạt được đến Lý nhất tâm. Đạt được Sự nhất tâm thì không còn bị kiến hoặc, tư hoặc làm tán loạn ;  đạt được Lý nhất tâm thì chẳng bị hai bên làm tán loạn.

 

            -. Kiến hoặc và tư hoặc không còn làm cho hành giả bị tán loạn, giây phút lâm chung không còn bị dấy lên tư tưởng sanh tử điên đảo của cõi Ta bà nữa, có thể vãng sanh thẳng về cảnh giới Tây phương cực lạc hoặc có thể sanh về cõi phàm thánh đồng cư, hay cõi phương tiện, tùy nguyện.

 

            Hành giả suốt đời chuyên hành trì thần chú nầy hoặc niệm hồng danh đã đến độ thuần thục, hoặc đời trước có gieo thiện duyên có thiện lực, đến lúc lâm chung trong hiện kiếp sẽ có được kết quả tốt, tùy niệm lực như thế nào để thấy Phật, thấy hoa, thấy cảnh giới giải thoát như thế ấy. Và, có thể trực vãng tây phương tức khắc.

 

            Tuy nhiên, chúng ta nên lưu tâm là trong kinh Địa tạng có dạy :  “Mống lòng động niệm, thì chắc chắn phải dấy lên tội lỗi” ;  thế nên, từ khi chúng ta sanh ra trong cõi đời nầy từ trước đến nay, trải qua vô lượng kiếp số như vi trần, với các tội lỗi đã tạo từ trước, đâu có thể tính đếm hết cho được !  

 

Nay dù phước báo có gieo chút đỉnh từ kiếp trước, thì nhớ mà trì niệm thần chú hay hồng danh Phật, Bồ tát cho nhất tâm, cố buông xả vọng tình. Cho dù có nhất tâm, nhưng với thân thể không được khỏe mạnh, tụng, lạy hồng danh, trì niệm thần chú, cũng khó thâu nhiếp cái định kiên cường như ý cho được. Điều nầy cũng giống như ngọn đèn giữa đám sương mù dày đặc lớn lao, lại thêm có gió thổi, thì ngọn đèn cũng còn khó giữ, thử hỏi làm sao mà ánh sáng tỏa rạng để thấy đường mà đi tới ?

           

Hành giả muốn tiến tu để thấy đạo, tu đạo và chứng đạo thì xả bỏ hết tất cả những cuồng huệ, đừng bám vào những lý lẽ suông hay đi theo con đường ngoan cố chấp trước, trước tướng mê tâm, cuối cùng không thể nào có kết quả tốt của sự tu tập ;  đồng thời, dễ dàng lạc đạo và đi vào vòng ma đạo lúc nào không biết được.

 

Rất mong quý hành giả chú tâm điều nầy.