18.    Đát Điệt Tha


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng một vị A La Hán để thuyết pháp độ sanh.

 

            Đại ý :  Đát điệt tha tức là lòng chí thành không bao giờ dứt đoạn. Đây là lời thuyết thần chú. Ý nói khi hành trì thần chú tâm và trí hợp nhất mới thấy đạo.

 

Lược giải :  A la hán là quả vị cao nhất trong bốn quả.

 

Bốn quả ấy là :

 

-.  Tu đà hoàn là quả ban sơ trong tứ quả, còn gọi là nghịch lưu (đi ngược dòng), còn gọi là nhập lưu (tức là được vào nước thánh) hay dự lưu (tức là được đi vào dòng thánh). Khi đắc quả Tu đà hoàn, người ta nhàm chán tất cả những gì có ở thế gian nầy và thấy được chánh pháp (nhãn pháp) hiện ra nơi thân của mình.

 

Ai đắc quả nầy, thì thấy rõ có sanh tất có diệt, vạn vật đều giả dối, không thật, nên không ưa thích. Tuy thế, còn trở lại để tu tiếp bảy lần như vậy, nên gọi là thất lai.

 

-.  Tư  đà hàm còn gọi là nhất lai, có nghĩa là trở lại một lần nữa và tu tiếp để chứng quả A la hán.

 

Vì trong kinh Kim cang, ngài Tu bồ đề có bạch với đức Phật rằng :  “Tư đà hàm, còn gọi là bậc một lần sanh lên cõi tiên và một lần sanh trở lại cõi người, rồi mới nhập niết bàn nên gọi là nhất sanh, nhưng thật ra cũng chẳng có sanh lên mà cũng chẳng có trở lại đâu. Chỉ có cái sắc thân là sanh đi sanh lại, chứ chơn tâm vốn bất sanh bất diệt,...”. Đây là quả thánh thứ nhì trong bốn quả.

 

-.  A na hàm là quả thánh thứ ba. Theo kinh Kim cang ngài Tu bồ đề bạch với đức Phật rằng : “A na hàm còn gọi là Bất lai, nhưng thật ra không có cái bất lai ;  vì chính cái chân như vẫn trường tồn, nó không sanh không diệt, nó không đi luân hồi mà cũng chẳng nhập niết bàn”. Bực A na hàm về sau, trải qua bốn vạn kiếp sẽ thành Phật.

 

-.  A la hán là quả cao nhất trong bốn quả.

 

Có ba nghĩa :  Sát tặc, Ứng cúng và Bất sanh.

 

Đắc quả nầy có sáu phép huyền diệu. Theo ba nghĩa nầy, luận Đại trí độ giải thích như sau :

 

+  A la tức là tặc, Hán tức là sát, phá ;  nghĩa là những giặc phiền não, vô minh đều bị phá sạch. Trong kinh Dược sư gọi là phá nát vỏ vô minh, tát cạn rừng phiền não là ý nầy.

 

            + Bực A la hán dứt sạch các lỗi lầm (nhất thế lậu tận) cho nên xứng đáng để cõi trời và cõi người cúng dường.

 

            + A là bất, chẳng, La hán là sanh, chẳng còn sanh ra ở cõi thế gian nầy nữa.

           

Một vị Bồ tát khi giáng thế độ sanh ở cõi ngũ trược ác thế, bắt buộc phải ngồi thiền định trở lại để chứng ngộ quả vị A la hán.

 

Giống như đức Thế tôn khi giáng trần ở cõi Ta bà thế giới đầy đau khổ nầy, Ngài cũng phải xuất gia, tu thiền định đắc quả A la hán rồi mới thành Phật.

 

            Ai mà sát hại một vị A la hán, thì không thể được gia nhập vào hàng ngũ Tăng già, không thể làm một vị Tỳ kheo.

 

            Theo câu thần chú nầy, Bồ tát Quán thế âm hóa hiện một vị A la hán là để thuyết pháp độ sanh, ý ngài muốn chúng sanh phát tâm tu niệm liên tục, đừng để gián đoạn mà ma nghiệp dễ dàng xen vào thân tâm mình. Khi đã bị chướng nghiệp xâm nhập vào thì vấn đề tu tập rất khó khăn.

 

Ngài dẫn chứng trong bốn quả vị cũng như đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni giáng trần hóa đạo đều phải xuất gia, tu thiền nhập định, đắc quả A la hán rồi mới chứng đắc Phật quả.

 

            Điều nầy nhấn mạnh cho chúng ta biết để tu. Nhìn vào thì dễ, nhưng thực hành theo Phật pháp cũng không phải dễ; và, cố tâm tu niệm thấy khó nhưng cũng không phải là khó. Dễ hay khó chỉ do sự quyết định và nhất tâm của chính mình. Bởi vì Phật tại tâm, tâm thành tức Phật tại.