26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Phật A Di Đà, ngài muốn hết thảy chúng sanh sau khi xả báo thân nầy đều được vãng sanh về thế giới tây phương cực lạc do ngài làm giáo chủ.

 

            Đại ý :  Ma hê ma hê  là tâm ý bao la, rộng lớn.  Rị đà dựng  là tâm hoa sen.

 

Đây là tâm chơn ngôn. Ý toàn câu là tâm ý quảng đại mà viên dung ;  đồng thời,  với thâm ý mà hành giả phải hiểu là trong nhơn có quả, trong quả có nhơn. Có tu là có an lạc. Tiến tu thì đạo nghiệp viên thành.

 

            Lược giải :  Ma hê là với, Ma hê cũng có nghĩa là giống nhau ;  Rị đà dựng cũng là dũng mãnh như kim cương, không bị phá nát, không bị tàn tạ. Rị đà dựng cũng có nghĩa liên hoa tòa, tức đài sen, chỗ ngồi như tòa sen.

 

            Trong mười hai đại nguyện của Bồ tát Quán thế âm, lời thứ mười hai nói :

 

-  Tiền tràng phang, hậu bảo cái, Quán âm Như lai tiếp dẫn Tây phương nguyện.

 

Nghĩa là:

 

Trước ngài có cây phướn, sau ngài có tàng báu, đức Quán âm Như lai nguyện tiếp dẫn kẻ tu hành Phật pháp được về cảnh giới Tây phương cực lạc.

 

Tại sao Bồ tát Quán thế âm muốn hết thảy chúng sanh mà đặc biệt là đệ tử của Phật đều phát nguyện về cảnh giới Tây phương cực lạc ?

 

Vì theo ngài, khi chúng ta được vãng sanh về đó rồi thì được hưởng bốn đức của Phật cảnh.

 

Đó là :

 

a-. Thường hay chơn thường :  Mặc dầu trải qua nhiều kiếp, tự tánh nó không hề biến đổi, giống như thể chất của vàng, dù thay hình đổi dạng mà vẫn không biến chất, phai màu, nên được gọi là chơn thường.

 

b-. Lạc hay chơn lạc :  Tự tánh của  nó có vô lượng công đức, giống như vàng ngọc hay khiến cho mọi người ưa thích, có nó là làm tăng giá trị như giàu sang, hưng thịnh, phước đức, ...

 

c-. Ngã hay chơn ngã :  Tự tánh của nó luôn luôn thông suốt cùng khắp, giống như vàng tùy người để tạo ra món đồ khác nhau, chất vàng vẫn không thay đổi, theo giáo lý thì gọi là tự tại, vô ngại.

 

d-. Tịnh hay chơn tịnh :  Tự tánh của nó không bị nhuốm theo cảnh bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh nào, giống như vàng, thể chất nó từ trong ra ngoài đều là vàng cả, không bị nhuốm màu, phai sắc.

 

Với bốn điều trên đây, pháp tánh của nó vốn có sẵn những công đức vi diệu.

 

Pháp hoa Huyền nghĩa cuốn bốn có chép : 

 

*  “Người tu Phật đã phá hết phiền não hai mươi lăm hữu rồi, gọi là Tịnh. Đã phá rồi những cái nghiệp của hai mươi lăm hữu, gọi là Ngã. Không thọ cái báo thân của hai mươi lăm hữu, gọi là Lạc. Chẳng còn cái sanh tử của hai mươi lăm hữu nữa, gọi là Thường.

 

Với Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, gọi là Phật tánh nó hiển hiện ra.

 

Nói ra thường lạc ngã tịnh ấy có cái lập trường để thuyết pháp của bộ kinh Niết bàn, thành thử với Niết bàn kinh, các Tổ xưa đã bảo là :  “đào thường giáo” nghĩa là giáo điển nầy chuyên bàn về lẽ Hằng thường.”.

 

Qua sự dẫn giải lợi ích phát nguyện trì chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát hay bái sám theo kinh điển, quý hành giả phát tâm tu Phật nên hết lòng và thành kính để đạt được mục đích cứu cánh :  giải thoát sanh tử luân hồi ;  nếu không trực tiếp giải thoát được thì ít nhất khỏi bị đọa vào trong sáu nẻo luân hồi, thì nên phát nguyện vãng sanh tịnh độ của đức Phật A Di Đà mà tu tiếp.

 

Vì về được cảnh giới nầy thì :

 

-         Không ơn, không oán, không sầu,

Không già, không chết, có đâu luân hồi ? ...