48.   Di Đế Lị Dạ


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng A Dật Đa Bồ Tát (tức đức Phật Di Lạc) chỉ dạy cho chúng sanh hạnh hỷ xả, sớm dứt bỏ tánh tham lam, bỏn sẻn.

 

            Đại ý :  Di đế lị (lợi) dạ (có thể đọc là rị dạ) tức là người có lòng từ ái.

 

Ý nói người phát tâm tu hành thì việc trước tiên là khởi lòng đại từ bi, đại hỷ xả thương xót chúng sanh, tức là có đủ tứ vô lượng tâm.

 

            Lược giải :  Hạnh từ bi là lòng lành thương yêu và đau xót.

 

Từ là thương tưởng, dốc lòng làm lợi ích và an lạc cho chúng sanh.

 

Bi là đau xót trước mọi sự đau buồn khổ não, hoạn nạn ưu sầu của chúng sanh, một lòng ra tay cứu vớt họ. Phật đối với chúng sanh xem như con một nhà, lúc nào cũng thương yêu vỗ về và tìm phương pháp đưa chúng sanh tỏ ngộ giáo lý nhiệm mầu của ngài đến nơi an lạc thì gọi là Từ. Động lòng thương xót, hết lòng tìm cách cứu vớt chúng sanh ra khỏi bể trầm luân thì gọi là Bi.

 

Người tu tập theo thần chú nầy cũng xem chúng sanh như anh em một nhà, mong cầu cho mọi người được giải thoát, hưởng an lạc tức là có đức Từ. Nhìn mọi người đang chịu cảnh đau khổ, động lòng thương cảm, tìm phương kế cứu giúp họ ra khỏi cảnh ấy tức là có tâm bi.

 

            Hạnh hỷ xả tức là lòng vui vẻ, bỏ đi.

 

Hỷ là vui vẻ đối với phúc lợi của chúng sanh, đối với sự thành công của chúng sanh về tài vật, vui vẻ khi thấy người ta tu hành chơn chánh, vui mừng là biết được có Phật, Thánh ra đời, biết thờ phụng và vâng theo giáo lý để tu tập.

Trong Niết bàn kinh, Phật có phân biệt Hỷ với Lạc.  

 

*.  Hỷ à vui vẻ cở thấp,

 

*.-  Lạc là vui vẻ cở cao.

 

Ví dụ như chư vị Bồ tát, trong khi ngưng làm việc quấy thì gọi là hỷ, trong tâm tịnh trì Giới thì gọi là lạc ;  trong khi quán tưởng sanh tử thì gọi là hỷ, còn khi thấy được Đại niết bàn thì gọi là lạc...

 

Xả là bỏ, thí đi. Giống như tha thứ cho ai khi họ xúc phạm đến mình, hoặc đem những gì mình có như tài vật, thân mạng mà cung cấp cho chúng sanh.

 

Hỷ xả cũng có nghĩa vui lòng mà bố thí, đồng nghĩa với tịnh xả, tịnh thí. Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng ngài Di Lạc là muốn cho người tu tập, hành trì thần chú nầy cố gắng và đạt cho được tứ vô lượng tâm.

 

Khi tu, tức hành trì thần chú thì phải quán tưởng tất cả chúng sanh cùng với mình đồng một bản thể, có thể là chgo mẹ hoặc con cháu của mình từ nhiều kiếp về trước và cũng có thể là chư Phật trong tương lai.

 

Nếu không có đủ tâm Từ, Bi, Hỷ Xả để cứu vớt mọi loài ra khỏi cảnh trầm luân mà chỉ biết cho riêng mình thì với tình vẫn có chỗ chưa an, với lý thì có chỗ thiếu sót.

Do đó, ngoài không thể cảm thông với Phật, trong không thể khế hợp với tánh chơn, trên không thể tròn quả bồ đề, dưới không độ khắp muôn loài chúng sanh.

 

Người hành trì thần chú nầy và đạt được tâm nầy tức là chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.