50.   Địa Rị Sắc Ni Na


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Bảo Tràng, tay kết ấn, tay cầm Kim xoa tìm phương tiện lợi ích chúng sanh.

 

            Đại ý :  Địa rị (lợi hay lị) sắt ni na là bền chắc và linh lợi.

 

Ý nói khi tu tập thì tâm phải kiên định và phải biết dùng cây kiếm trí huệ chặt đứt mọi phiền não, chướng duyên để thẳng tiến đến đạo quả.

 

            Lược giải :  Hành giả tu tập thì trí huệ cần phải sáng suốt và quyết chí. Vì lý trí là một vũ khí sắc bén giống như một thanh kiếm quý, sắc, nhọn có thể đâm thủng, xuyên qua mọi vật. Trí huệ cũng vậy, phải biết nhìn xa, nhìn gần và hiểu rõ thế nào là chánh pháp và tà pháp. Tám cái: tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên và viên thì cái nào là đúng, cái nào là sai, hành giả gạn lọc kỷ lưỡng để tu. Gọi là trạch pháp giác chi.

 

            Tà là ngược lại với chánh, là không ngay thẳng, không thành thật. Không theo Phật mà lại quy ngưỡng theo tà ma, quỷ mị như tà thần, tà giáo, tín tà, v..v... Dù hành giả tu theo Phật mà không rốt ráo với giáo lý, lại mộ theo âm, thanh, sắc, tướng cũng là tà.

 

Trong kinh Kim cang, đức Phật dạy :

 

            Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

            Thị nhơn hành tà đạo,

Bất năng kiến Như lai.

 

Nghĩa là :

 

            Thấy sắc, cho rằng thấy Phật đà,

            Nghe thanh, lại bảo đó là Ta,

            Người tu như vậy, tức tà đạo,

            Đâu dễ rõ tường thấy Phật a!

 

            Chánh tức là phải, đúng. Trái với tà. Nghĩa là thuần nhất, không tạp nhạp, không thiếu sót, vững chắc, ...  Chơn là thật thà, thành thật. Đối ngược với giả, hư, vọng. Cùng nghĩa với thành thật, như như.

 

            Ngụy là hư dối, không thật, không ngay thẳng, không chính đáng. Nó đối ngược với chơn.

 

            Đại là từ chữ Phạn là Ma Ha, nghĩa là rộng lớn, bao bọc khắp cả, tức là mầu nhiệm, nhiều hơn hết. Không thể nghĩ bàn. Trong Phật pháp được tôn kính, tôn xưng thì có nghĩa là đại. Nó đối ngược với tiểu.

 

            Tiểu hay thiểu là nhỏ, là ít, là cạn mỏng, ...

 

            Thiên có rất nhiều nghĩa, riêng về trong Phật pháp, theo nghĩa đúng là lệch về một bên, không ngay thẳng, không chơn chánh ví dụ như thiên kiến.

 

            Viên tức là tròn trịa, tròn đầy, hoàn toàn, bao bọc khắp cả. Viên là đức tánh của Phật thanh tịnh. Có đủ phước đức và trí huệ rất trang nghiêm, lời nói của ngài được gọi là viên âm. Tiếng nói tròn trịa, nhiệm mầu.

 

Trong kinh Hoa nghiêm nói :

 

Nguyện Phật ai mẫn,  Tuyên thị viên âm.

 

Nghĩa là :

 

Xin Phật thương xót, Đem Viên âm mà tỏ bày.

 

Điều nầy trong Quy nguyên Trực chỉ có hướng dẫn :  Mỗi tiếng cất lên đều là viên âm, mỗi việc làm ra đều là Phật sự.

 

Nói chung là viên dung, thông suốt, vô ngại. Lý và sự đều như như, không còn nghịch nhau. Thấy nước và sóng là một, phiền não tức bồ đề, sanh tử, luân hồi là niết bàn tịch tịnh.

 

Chúng sanh là bổn giác, Ta bà là Tịnh độ. Tại sao như vậy, vì hành giả tu tập đến nơi rốt ráo thì tâm trí hợp nhất, viên dung tất cả.

 

Nói tóm lại, khi tu tập là phải biết xử dụng cây kiếm trí tuệ. Cây kiếm ấy là gì ? Đó là giới luật của Phật. Phải biết giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn, giới luật hư hỏng là chánh pháp cũng tiêu diệt.

 

Đừng bao giờ có cái tâm nói :  chỉ cần thiền định là minh tâm kiến tánh mà không giữ giới.

 

Vì thiền có nhiều cõi khác nhau, có Phật thiền, nhưng cũng có ma thiền, hành giả chưa xác định được thiền nào là của Phật, thiền nào là của ma, của Tam thừa tứ quả ; thiền mới phát tâm và thiền đã phát tâm (ví dụ như bậc A la hán thì có : A la hán hướng và A la hán quả, có nghĩa là hai bậc khác nhau – một bậc mới tập tu quả vị A la hán và một bậc đã chứng ngộ quả vị A la hán. Do đó, thiền cũng khác nhau), ...

 

Tuy nhiên, giới luật của Phật là tùy tâm phát nguyện cầu thọ. Hành giả cẩn thận điều nầy.