54.   Ta Bà Ha


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Hằng Hà Sa, đứng trên đầu rồng, dùng nước cam lồ để rưới tắt phiền não, dục tình cho chúng sanh với tâm cát tường, từ bi của ngài.

 

            Đại ý :  Ta bà ha là bậc đã được thành tựu. (xin xem đại ý trang 160). Chữ Ta bà ha cũng có thêm nghĩa là kết thúc trong giải thoát.

 

            Lược giải :  Phần nầy cũng tương tự như trang 160. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi nhấn mạnh thêm rằng :  Muốn kết thúc khổ đau, tất cả phiền não và vô minh phải được diệt trừ.

 

Trong những trang trước, chúng tôi có nói và giải thích về hai vấn đề Vô minh và Phiền não ra từng phần một; nhưng, thật sự không phải là hai mà vô minh tức phiền não và ngược lại.

 

Để bổ túc thêm cho phiền não được hiểu tường tận hơn, có nghĩa là phiền não của chúng sanh gồm nhiều thứ :

 

a.-  Có bốn phiền não (tứ phiền não), cũng được gọi là Tứ hoặc. Bốn phiền não cội rễ nầy, thường ứng với Mạc na thức (thức thứ bảy trong Duy thức học) :     

 

1.-  Ngã si, tức tánh ngu si, vô minh của mình.

2.-  Ngã kiến, tức ý kiến chấp có mình, chỉ thấy có riêng mình là quan trọng mà thôi.

3.-  Ngã mạn, tức tánh khinh khi, cho mình là hơn hết, xem mọi người là thua kém hơn mình (mục hạ vô nhơn nghĩa là dưới mắt mình không có ai đáng giá).

4.-  Ngã ái, tức tánh tự ái, thương cho riêng bản thân mình, lòng tham dục cho mình.

 

b.-  Có sáu phiền não lớn (lục đại phiền não):

 

1.-  Tham,

2. Sân,

3.-   Si,

4.-   Mạn,

5.-   Nghi,

6.-   Ác kiến (ganh ghét, tin bậy, tưởng sai).

 

c.-  Có mười phiền não (Thập phiền não) cũng được gọi là Thập sử :

 

1.-  Tham dục,

2.-  Sân nhuế,

3.-  Vô minh (ngu si),

4. Mạn,

5. Nghi,

6.-  Thân kiến (Ngã kiến),

7. Biên kiến,

8. Tà kiến,

9. Kiến thủ kiến, và

10.-  giới thủ kiến.

 

Trong Mười phiền não trên đây, Năm phiền não trước là của người chậm lụt, kém thông minh (đần độn), Năm phiền não sau là của người lanh lẹ (lanh lợi, thông minh).

 

d.-  Có 108 phiền não (bách bát phiền não), cũng gọi là Bách bát kết nghiệp.

 

e.-  Chúng sanh có đến tám vạn bốn ngàn phiền não, cũng gọi là Bát vạn tứ thiên bệnh hay Bát vạn tứ thiên trần lao.

 

Tất cả đều do tham-sân-si biến hóa ra thành vô số phiền não nên được gọi là Bát vạn tứ thiên phiền não.

 

Trong kinh Nhơn thiên hộ quốc Bát nhã ba la mật có nói :  Bồ tát khi chưa thành Phật, lấy bồ đề làm phiền não, Bồ tát khi đã thành Phật lấy phiền não làm bồ đề. Tại sao như vậy? Nghĩa là đối với đệ nhất nghĩa đế thì không có hai lẽ (phiền não và bồ đề).

 

Chư Phật trong mười phương đối với các pháp, nhìn các pháp thì như nhau.

 

Trong Du già luận, quyển tám có nói :   Các đầu mối lầm lạc, phiền não, mê dục phát khởi là do từ trong tâm phát sanh ra, khiến cho chúng sanh nói quấy, nghĩ bậy, làm sai đều do sáu nhơn duyên

 

1.-  Do tự lòng mình (do sở y) : Vì tự tánh của mình đã có sẵn tham luyến, vọng tưởng, tà kiến, nên phiền não nẩy sinh.

 

2.-  Do cảnh ngộ (do sở duyên) :  Thuận theo các cảnh phiền não phát sanh ra trước mình.

           

3.-  Do chỗ quen thuộc, gần gũi (do thân cận) :  Do học theo bạn xấu, thầy tà.

 

            4.-  Do giáo lý tà quái (do tà giáo) :  Vì nghe theo những phép chẳng lành, tà phái.

 

5.-  Do tánh quen (do sở tập): Từ trước đã học, đã quen theo thói hư tật xấu, nay nó kết thành thế lực rất mạnh, dễ sai khiến sai trái con người.

 

            6.-  Do chỗ tác ý (do tác ý) :  Ý tưởng phát ra không đúng với chánh pháp.

 

            Hành giả muốn đạt được vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trong lúc phát khởi tu tập phải nhất tâm đoạn trừ phiền não.

 

Bồ tát Quán thế âm nhìn chúng sanh có hằng hà sa phiền não, ngài cũng hóa thân thành Bồ tát Hằng hà sa mà cảm hóa.

 

Hành giả quán triệt như vậy thì dễ dàng thẳng tiến Phật đạo không xa. Đó chính là thành tựu, đại thành tựu.