7.  Án


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng của các Quỷ thần vương, chấp tay trì niệm thần chú. Chư Phật quán tưởng chữ  “ÁN” để thành Chánh giác. (Xin quý Phật tử xem hình chữ Án trong hình số 7 để biết rõ hơn).

           

Đại ý :  Chữ Án có thể đọc :  Um, Úm, Om. Mọi quỷ thần, quỷ vương đều phải chấp tay nghe từng lời chú. Nó là căn bản, mẫu lực, nguồn gốc của chơn ngôn.

 

Án cũng được hiểu là quy mạng, quy y theo, vâng giữ theo. Nó biểu hiện của Chơn như, cái hư không vô tận, cái tuyệt đối không thể nghĩ bàn.

           

Lược giải :  Trong Mật tông, nhất là ở Tây tạng đa phần dùng chữ Án nầy và dùng nguyên câu Án ma ni bát di hồng. Có sách phiên âm là Úm ma ni bát minh hồng hay Om ma ni bá di hồng, ... Câu nầy không chỉ dành cho Mật tông hành trì, mà đạo Bà la môn cũng dùng và trong Thiền-Tịnh cũng dùng để quán chiếu nội tâm. Nhờ đó mà suy tư tu niệm để ngộ đạo.

 

            Chữ Án có công dụng thay thế cho chư Phật, chư Thánh thần. Có sức linh diệu hơn hết. Tiếng án là tiếng tạo tác, nó sáng lập ra muôn vật, muôn cõi. Cũng có nghĩa là “bổn mẫu” hay “bổn”, nghĩa là căn bổn, mẫu tức là gốc, cho nên có câu thần chú gọi là Phật mẫu Chuẩn đề thần chú, nghĩa là chư Phật là cha mẹ của hết thảy chúng sanh.

 

Nhờ hành trì chữ Án mà phát sanh ra trí huệ bát nhã, phát thiền định cao cường để tự độ và độ tha.

 

Một khi hành giả trì tụng chú Đại bi, đến chữ Án nầy thì tất cả chư Thiên và Thiện thần đều hộ vệ, tất cả ma quỷ, chướng duyên đều được dẹp trừ. Nhờ đó mà hành giả dễ dàng thâu nhiếp được các căn và dung hóa được  thân và tâm. Các thanh âm trong vũ trụ phát lên là do tiếng án nầy vậy.

 

Dù là những vị tu theo Mật tông dùng làm căn bản cho tông phái, Thiền-Tịnh cũng phải dùng đến để tiến tu đạo nghiệp.

Chúng sanh nào phát nguyện chuyên tâm hành trì và quán chiếu chữ án thì có thể nghe rõ các âm thanh trong các cõi thế giới; từ đó, hiểu ngay sự phát sanh của mọi vật và tự mình được giải thoát, ra khỏi cảnh luân hồi.

 

Nhờ sức trì chữ Án nầy nảy sinh ra mười thứ pháp môn :

 

1.      Tự, tức là chữ, từng chữ.

 

2.      Cú, tức là kinh điển hoặc thần chú, từng câu từng chữ.

 

3. Quán, xem xét. Dùng chữ quán để tập tu từ thấp lên cao.

4. Trí, đây là trí huệ. Người tu Phật thì dùng kiếm trí huệ để chặt đứt các phiền não, nảy sinh ra được bát nhã. Quán cũng là thiền Ba la mật.

 

5. Hành, tức tu hành, thực hành pháp tu.

 

6. Nguyện, khi tu thì phát nguyện vâng theo Phật pháp để thực hành cho đúng. Nguyện tự độ và độ tha.

 

7. Y giáo phụng hành, nghĩa là luôn luôn vâng theo chánh pháp mà thực hành. Nếu không theo đúng giáo pháp của Phật thì cả trăm ngàn kiếp cũng khó mà thấy đạo. Không thấy đạo làm sao chứng đạo, làm sao an lạc giải thoát. Điều nầy cũng giống như lấy cát mà nấu thì bao giờ thành cơm.

 

8. Lý, tức đạo lý. Tu hành hợp chân lý, hợp pháp môn thì sẽ có kết quả. Tu mà không khế hợp với diệu lý thì giống như người mù xem voi, đã không ích lợi mà lại uổng phí thời gian. Đáng tiếc.

 

9. Nhân, khi tu tập thì phát nguyện gieo nhân tốt, nhân lành, nhân thù thắng thì mới mong kiến tánh thành Phật.

 

10. Quả, tức kết quả. Nghĩa là đạt được quả vị Thánh ở trong Phật pháp. Đạt được Chánh đẳng giác.

 

Do vậy, hành giả phải biết rằng :  khi tu tập, thực hành và quán chữ Án mà đã phát sanh ra mười pháp môn vi diệu, đủ biết Thần chú Đại Bi tâm đà la ni có năng lực như thế nào.

Rất mong tất cả những ai phát tâm học Phật nên lưu tâm, phát tâm hành trì dõng mãnh.