76.   Nam Mô Hắc Ra Đát Na, Đá Ra Dạ Da


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Hư Không Tạng, tay cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm và tinh tiến tu tập.

           

            Đại ý :  Nam mô hắc ra đát na, đá ra dạ da là đem thân mạng mà quy y với Tam bảo. Chữ Nam mô là quy y, quy mạng là tâm tư hướng theo Phật.

 

Vì Tam bảo là báu vật mà không có bất cứ cái gì trên thế gian nầy có thể so sánh được.

 

            Lược giải :  Phần đầu của bài chú đã có câu nầy rồi và ý nghĩa cũng tương đồng như vậy, không có gì sai khác. Ở đây chúng tôi xin hướng dẫn thêm ý nghĩa của Tam bảo.

 

Vậy Tam bảo là gì ?  Đó là ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.

 

Tam bảo có các nghĩa như :   Bất biến vẹn toàn, vững bền, không nhơ nhớp, cứu khổ ban vui, khó gặp, phá phiền não, uy đức, mãn nguyện, trang nghiêm và rất mầu nhiệm.

 

Luôn luôn đem lợi ích giải thoát và an lạc cho chúng sanh nên được gọi là Bảo.

 

Tam bảo được thâu tóm thành ba bậc :

 

a. Đồng thể Tam bảo còn gọi là nhất thể Tam bảo hay đồng tướng Tam bảo,

 

b. Biệt thể Tam bảo còn gọi là chơn thật Tam bảo hay xuất thế Tam bảo,

 

c. Trú trì Tam bảo.

 

Trong Lục đạo tập hướng dẫn rằng: Trong thế gian đều cho châu ngọc, vàng bạc là quý báu (bảo), nhưng đó chỉ là đồ trang sức tạm vui chơi, không chắc thật, không lợi ích.

 

Niết bàn kinh dạy :  Phật, pháp và Tăng, ba ngôi báu ấy đều như nhau (vô hữu sai biệt). Tánh tướng của Tam bảo là :  Thường, Lạc, Ngã và Tịnh.

 

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thành Bồ tát Hư không tạng là ngài chỉ cho chúng sanh biết :  Phật pháp rộng rãi, bao la, bao trùm hết thảy tất cả sơn hà, đại địa, nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

 

Khi chưa nương (quy y, quy mạng) vào ba ngôi báu ấy thì chúng sanh sẽ không thấy được gì cả.

 

Nương vào Tam bảo đứng về sự mà nói :  tức là gởi thân vào Phật, Pháp và Tăng; đứng về lý tánh mà nói là nhập vào và đạt được Giác thì có đủ trí huệ và phước đức -  Chánh thì không còn bị tà kiến, sai lạc – Tịnh thì không chấp trước, ô nhiễm.

 

Nói tóm :  Phật là Giác, Pháp là Chánh và Tăng là Tịnh vậy.

 

Nghĩa là mỗi một chúng sanh đều có tánh giác ngộ thành Phật như nhau. Khi mê là chúng sanh, khi đã ngộ là Phật. Giác ngộ rồi thì thấy mình và ta không có sai khác và giống như trong Bát nhã tâm kinh dạỵ: không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt; cho nên trong Không :  không có sắc thanh hương vị xúc pháp, ... không vô minh và sự tận diệt của vô minh, ... cũng không trí không được vì chẳng được gì cả.

 

Hành giả muốn đạt được lý nầy thì phải thực hành câu thần chú trên đây giống như thực hành lý Bát nhã để chứng nhập vào đó mới soi thấy được năm uẩn đều không, mới vượt thoát ra khỏi mọi sự đau khổ (khổ ách).

 

Muốn tu niệm hành trì thần chú nầy thì phải phát tâm Bồ tát giống như đức Quán thế âm, chứa nhóm tất cả như ngài Hư không tạng.

 

Khi phát tâm thực hành hạnh Bồ tát thì phải rộng tu sáu độ :  Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ để tận diệt sáu tệ của chúng sanh là :  Xan tham, hủy phạm, sân nhuế, dải đãi, tán loạn và ngu si.

 

Hành giả đạt được lý nhất niệm và sự nhất niệm thì vô tận pháp giới sẽ được dung thông, không thiếu mà cũng không dư.

 

Nói như ngài Trí giả :  Giấy lên một niệm, tức đủ cả mười giới như, ngoài một niệm ra, không còn có những gì bằng một sợi lông, sợi tóc.