83.        Bạt Đà Da


            Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Phật A Di Đà phóng quang, tay trì bình hương, niệm chú giải trừ cảm xúc, khiến cho chúng sanh đoạn trừ thân căn của xúc trần hư vọng, tự chứng ngộ tánh giác chơn không.

 

            Đại ý :  Bạt đà da là tùy tâm viên mãn.

 

Từ câu thần chú Thước bàn ra dạ đến câu nầy, Bồ tát Quán thế âm đều hiện thân tướng đủ các thân hình Bồ tát và Phật để chuyển hóa sáu phàm căn thành chơn giác.

Tuy nhiên, ngài trực tiếp chỉ dẫn cho chúng sanh cần biết phải đạt giả để tầm chơn.

 

            Lược giải :  Kể từ đức Thế tôn Quang Vương Tịnh Trụ đến nay đã trải qua vô lượng vô lượng kiếp, Bồ tát Quán thế âm đã tu chứng, nhập đại định, xả bỏ cái thân tiểu ngã vô thường để chứng cái thân vô thượng và thâm nhập được Quảng đại Viên mãn Đại bi tâm Đà la ni.

 

Ngài luôn luôn theo sát và làm lợi ích cho chúng sanh; đồng thời, ngài hướng dẫn chúng sanh dứt trừ nghiệp chướng để sớm đến bờ giải thoát (đáo bỉ ngạn), rốt ráo cứu cánh viên mãn.

 

Như phần trước có đề cập đến sự chuyển hóa ngũ căn thành :  Thành sở tác trí, nghĩa là sự diệu dụng trí tuệ của ngài biến hóa thành mọi sự, mọi vật, để làm lợi ích cho các hàng Thanh văn, Duyên giác và phàm phu.

 

Ngài đã chuyển hóa ý căn thành :  Diệu quán sát trí để quán sát rành rẽ những tướng trạng của các pháp.

 

Ngài đã đạt đến cái trí gọi là Đại viên cảnh trí, cho nên thấy rõ tất cả mọi cảnh giới; biến hóa đủ các thân hình nên gọi là thiên thủ, thiên nhãn (ngàn tay, ngàn con mắt), nhưng vẫn vô ngại, tùy duyên và tùy cảnh mà hóa độ.

 

Tay là biểu hiện cho từ bi để nâng niu, tiếp nhận; mắt là biểu hiện cho trí tuệ để quán sát, soi xét. Nơi nào cần đến sự cứu độ, thành tâm niệm danh hiệu thì ngài hiện thân đến và cứu độ ngay (tầm thanh cứu khổ).

           

Chúng sanh nào tâm thành chí cố để niệm thần chú nầy thì sẽ không còn bị đọa lạc vào trong tam đồ, bát nạn nữa. Thậm chí còn được phước báo là cầu gì đều được toại nguyện ;  ngoại trừ những kẻ bất tín, bất kính, lòng không chí thành mà lại giấy lên niệm nghi ngờ. Sở dĩ hóa ra cả ngàn tay là ý nói công hạnh quá rộng lớn, đâu đâu cũng có sự nâng niu, ân cần của ngài, tức là Phật pháp đã hưng khởi tại nơi có dấu tay.

 

Với ngàn mắt là ý :  nơi nào ngài cũng xem xét, trông coi có chúng sanh đang gặp nạn khổ thì ngài phải phân thân rãi thể đến cứu khổ, ban vui. Con mắt là con mắt trí tuệ, con mắt của từ bi.

 

Trí và bi đầy đủ và sẵn sàng che chở muôn loài, sẵn sàng nhận lấy những đau khổ thế cho chúng sanh.

            Ngài đưa mắt nhìn rồi dang tay ôm trọn chúng sanh vào lòng tức là trao trọn Bi và Trí, tùy duyên cảm hóa, dắt dẫn hết thảy đến cảnh giới an lạc, tịch tịnh tức cảnh giới niết bàn xuất thế gian vậy.

           

Nói tóm lại, sự hóa hiện của ngài nhiều như vậy là vì có tám vạn bốn ngàn chúng sanh thì phải có đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn.

 

Khi chưa chứng ngộ chơn pháp thì một thân chỉ có hai tay, hai mắt ;  khi tu chứng rồi thì một mà tất cả và tất cả là một. Hạng phàm phu một thân, sáu căn thì trở thành lục tặc, bậc giác ngộ thì trở thành lục thông với thiên biến vạn hóa.

 

Hành giả phải biết rõ khi bị vô minh mê hoặc thì thân tâm của mình nó trở thành bát ngu, tứ thiên phiền não cũng như bát vạn tứ thiên trần lao; trái lại, như trên đã nói: tu chứng rồi thì chuyển thức thành trí thì sự hoạt dụng của nó khắp cả thái hư, càn khôn, nên gọi là gom càn khôn mà làm lượng, là tâm bao thái hư.

 

Điều mà hành giả phải lưu tâm: Hành trì thần chú là đem hết tâm niệm của mình tín thâm, chí cố, đừng đem cái trí phàm phu mà luận bàn.

 

Nói như vậy, không có nghĩa là :  Chúng ta nhắm mắt theo suông, nhưng, khi chúng ta tu tập theo thần chú cao siêu mầu nhiệm nầy thì ít nhất cũng đã được tu tập và thực hành những lớp Phật pháp căn bản và đã thực tập những gì trong Phật pháp rồi.

 

Nói cách khác, chúng ta đã bước lên một cấp khá vững mạnh và khá cao trong giáo lý Phật đà.